Tác giả bài viết này Góp một cach nhìn về những định hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam qua các thời kỳ từ khi dân tộc ta giành được độc lập cho nước nhà. Xin được chia sẻ quan điểm cùng độc giả. 

Suốt 70 năm qua, Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ “cách mạng”: Cách mạng giải phóng dân tộc; cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng XHCN, ba cuộc cách mạng (trong cách mạng XHCN)… Theo cách hiểu thông thường khái niệm cách mạng có mục tiêu là lật đổ chính quyền hiện hữu bằng bạo lực để thiết lập một Chính quyền mới… Hiểu theo nghĩa rộng hơn, cách mạng là xóa bỏ cái cũ để xây dựng, thiết lập cái mới tiến bộ hơn. Do đó, cách mạng có thể diễn ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam ghi mốc son trong lịch sử loài người thế kỷ XX với cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 do Cụ Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là một cuộc cách mạng theo đúng nghĩa. Cuộc Cách mạng này đã lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, tạo dựng chế độ xã hội mới – chế độ “dân chủ, cộng hòa” theo nguyên nghĩa của hai khái niệm này. Hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là sự tiếp nối, bảo vệ thành quả của cuộc Cách mạng đó.

Trở lại tên gọi các chế độ xã hội từ 1945 đến nay bao gồm: Chế độ “Dân chủ nhân dân”, là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ (1955-1975), Việt Nam chia ra làm hai chế độ xã hội: Ở Miền Bắc xây dựng xã hội “xã hội XHCN”; ở Miền Nam xây dựng xã hội “dân tộc dân chủ nhân dân”. Sau khi đất nước thống nhất (30-4-1975), sự nghiệp xây dựng đất nước theo “con đường xã hội XHCN” được Đảng cộng sản Việt Nam gọi là xây dựng “xã hội XHCN”. Sau sự kiện Liên Xô “cải tổ-sụp đổ-tan rã”, như quân bài Domino, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu cũng sụp đổ theo, chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa. Trước tình hình chính trị, kinh tế cực kỳ khó khăn, Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã quyết định thay đổi đường lối chính trị-đối nội và đối ngoại, trước hết là nhằm ứng phó với khó khăn khi không còn sự trợ giúp của các nước “anh em”. Đường lối đó được gọi là “Đổi mới”, xã hội Việt Nam cho đến nay về bản chất vẫn là tiếp tục con đường cách mạng Tháng Tám. Đó là sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường xã hội XHCN. Nhìn một cách tổng quát, chế độ xã hội Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám, 1945 đến nay là sự vận động của xã hội mang tính tiến hóa – tiệm tiến hướng đến mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, xây dựng xã hội “dân giầu, nước mạng, dân chủ, công bằng, văn minh”… như Cương lĩnh 1991 và 2013 của Đảng ta đã xác định.

Nội hàm của sự phát triển tiến hóa-tiệm tiến gồm hai yếu tố: Phát triển những nhân tố mang tính “quy luật lịch sử tự nhiên” như ông Mác viết và loại bỏ những nhân tố chủ quan, giáo điều về lý luận, hoặc sao chép mô hình XHCN của nước ngoài.

“Chế độ dân chủ nhân dân” (từ 1945 đến năm 1975) là thành quả của cuộc vận động cách mạng do Cụ Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chánh cương của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1930), do Nguyễn Ái Quốc viết: Đảng “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy mục tiêu cơ bản trước mắt của Đảng là: làm “tư sản dân quyền cách mạng”. Mục tiêu này là làm cuộc cách mạng giải phóng xã hội, đưa Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến đem lại quyền công dân, quyền con người cho mọi người.

Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ “dân chủ nhân dân” hình thành và được thể chế trong Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. (i) Về chính trị, Hiến pháp quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều thứ 7). (ii) Về kinh tế-xã hội, Hiến pháp quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (điều 12); “Quyền lợi của giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm” (Điều 13); “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước” (Điều 15).

Sau cách mạng Tháng Tám, chính sách “giảm tô, giảm tức” của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã cải thiện đáng kể cuộc sống cho nông dân. Tiếc rằng, chính sách “Cải cách ruộng đất”, do giáo điều học tập kinh nghiệm của Trung Quốc đã “lợi bất cập hại”, gây tổn thất cho đất nước, làm ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của người dân đối với chế độ xã hội. Sai lầm này đã được Đảng cộng sản và nhà nước phát hiện, công khai thừa nhận và đã thực hiện chính sách “sửa sai”. Đây là sự loại bỏ sai lầm đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1975 đến nay, Việt Nam đã trải qua hai mô hình xây dựng xã hội: Mô hình xã hội “xã hội XHCN” kiểu cũ với các nhân tố: Về chính trị đó là: “chế độ làm chủ tập thể XHCN” của nhân dân lao động bằng nhà nước “chuyên chính vô sản” dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Về kinh tế, đó là chính sách: “Xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể…; Đó là chế độ “phân phối công bằng, hợp lý, có tổ chức, có kế hoạch” nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và văn hóa của toàn xã hội (Văn kiện Đại hội IV, 20/12/1976). Xét về lý luận, mô hình xã hội XHCN này bắt nguồn từ nhận thức giáo điều của Đảng cộng sản Việt Nam về xã hội XHCN trong “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Đồng thời, đó còn là việc giáo điều học tập “mô hình xã hội chủ nghĩa Xô-viết”. Tiếc rằng trong mô hình này nhiều quan điểm của Lê-nin về kinh tế thị trường, về học tập chủ nghĩa tư bản… trong Chính sách kinh tế mới (NEP từ năm 1921-1923) đã không được những người cộng sản kế thừa phát triển, trái lại bị loại bỏ bởi chủ nghĩa duy ý chí “tả khuynh”.

Thực tế cho thấy mô hình CHXH kiểu cũ đã không đem lại kết quả mong muốn. Từ Đại hội IV đến trước Đại hội VI (1986), kinh tế đất nước, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ở nhiều địa phương cán bộ, Đảng viên đã “xé rào” bằng những chính sách của địa phương. Chẳng hạn như ở tỉnh Vĩnh Phúc ông Kim Ngọc (Bí thư Tỉnh ủy) đã ra Nghị quyết “khoán hộ”. Thực hiện chính sách này kinh tế phát triển, người dân hăng hái sản xuất, đời sống được nâng cao. Kinh nghiệm của Vĩnh phúc dẫn đến một số thay đổi chính sách trong kinh tế của Trung ương. Mô hình xây dựng xã hội XHCN cũ (Chế độ chính trị “chuyên chính vô sản”; kinh tế “kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp”) từng bước bị xóa bỏ. Những chính sách mang tính sáng tạo của những người lãnh đạo ở địa phương, từ chỗ người khởi xướng bị kỷ luật đến chỗ Trung ương Đảng thừa nhận và hình thành nhiều chủ trương, chính sách của cấp Trung ương. Chẳng hạn như “Chỉ thị 100”, 1981- (khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp) nhằm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động…”. Năm 2009, ông Kim Ngọc – người bị kỷ luật đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Đồng thời thực hiện ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, năm 2009 Tỉnh ủy Vĩnh phúc đã cho đúc tượng đồng ông Kim Ngọc và đã tặng cho gia đình.

Có thể nói “khoán 10” năm 1988 với sự “Công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể tư nhân, đảm bảo quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân” là một bước đổi mới quan trọng về tư duy chính trị – về quan niệm chế độ xã hội XHCN – trong chế độ đó: “Kinh tế cá thể tư nhân”, “quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân…” được đảm bảo.

 “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, được Đại hội VII, 1991 thông qua và Cương lĩnh “xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã hoàn thiện mô hình xây dựng CHXH kiểu mới.

Những nhân tổ cơ bản của mô hình bao gồm: Về mục tiêu, đó là hướng đến: Một xã hội trong đó “Dân giàu, nước mạng, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về chính trị đó là: một xã hội “do nhân dân làm chủ” với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Về kinh tế, đó là một “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Về văn hóa, đó là “một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Về quan hệ quốc tế, đó là một quốc gia “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.”

Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu mới tuy là một bước phát triển tiệm tiến nhưng khác xa mô hình xã hội XHCN kiểu cũ: Những tiêu chí về một xã hội hiện đại nói chung đã được khẳng định. Chẳng hạn về chính trị, mô hình này khẳng định “các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi” thay cho tính đẳng cấp trong khái niệm “chuyên chính vô sản”, “công nông là người làm chủ xã hội”. Hơn nữa Hiến pháp 2013 đã hiến định quyền con người. Hiến pháp đã giành cả một chương (Chương II): “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”. Chương này hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực nhân quyền của cộng đồng quốc tế. Về kinh tế, đó là sự khẳng định “kinh tế thị trường…” thay cho kinh tế “kế hoạch hóa” tập trung, quan liêu, bao cấp. Về đối ngoại, đó là “đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ” vì “lợi ích quốc gia, dân tộc”, “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” không phân biệt quan điểm chính trị, hệ tư tưởng… thay vì bó hẹp quan hệ quốc tế trong các nước XHCN như thời kỳ chiến tranh lạnh.

Các sự kiện chính trị diễn ra ở Biển Đông, quan điểm của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong quan hệ quốc tế trong vài ba năm gần đây, trong đó Việt Nam củng cố và phát triển các quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia và quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ (năm 2013) đã hoàn thiện mô hình CHXH kiểu mới.

Mặc dù con đường phát triển của Việt Nam còn đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức nhưng không thể phủ nhận được phương hướng xây dựng một xã hội Việt Nam hiện đại của Đảng cộng sản Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại./.

Hoàng Sơn

»Cùng chủ đề