Bài học chống lạm phát từ Ấn Độ bởi Nguyễn Quang

Tình trạng lạm phát đang đe dọa nền kinh tế toàn cầu. Chúng ta hãy nhìn vào thực trạng nền kinh tế Ấn Độ và lắng nghe bài học chống lạm phát của Tiến sỹ Krishnamurthy

Lạm phát của Ấn Độ đã đạt mức cao trong suốt 3 năm qua với mức bình quân là 7,41%. Chúng ta có thể cảm thấy an ủi khi thực tế là nhiều nước láng giềng cũng đang phải đối mặt với mức lạm phát 20%, kể cả Trung Quốc cũng đã ghi nhận mức lạm phát lên tới mức 8,7%, mức cao kỷ lục trong vòng 11 năm qua.

Xu thế toàn cầu hóa được coi là lý do chính dẫn đến tình trạng lạm phát hiện nay. Báo cáo của Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết: Giá thực phẩm vào tháng 2 đã tăng cao hơn 65% so với cùng kỳ năm 2005, giá kim loại đã tăng lên 70% so với năm 2005 và giá dầu đã tăng lên hơn 175%. Xu thế tăng giá (buoyant economy), sự thâm hụt trong sản xuất của một số mặt hàng, giá dầu thô tăng mạnh và các hoa màu thực phẩm đa dạng cho việc sản xuất dầu sinh học đều khiến cho giá cả tăng lên.

Vụ cắt giảm thuế đáng chú ý và việc xóa 15 tỷ USD nợ nông trại của chính phủ vừa qua đã dần trở nên vô nghĩa. Một số bang đã lập kế hoạch bầu cử trong năm nay và bầu cử Quốc hội Ấn Độ cũng chỉ còn một năm nữa sẽ diễn ra. Một chính đảng vừa tiến hành cuộc vận động chống lại việc tăng giá hàng hóa trong khi những đảng phái còn lại ủng hộ chính phủ bên ngoài (có quyền hành mà không phải chịu trách nhiệm), đã cảnh báo sẽ tổ chức một cuộc vận động vào ngày 15 tháng 4.

Phản ứng tức thì với những vụ việc này, chính phủ đã tuyên bố “tất cả các biện pháp tài chính, điều tiết và hạ mức thuế nhằm hạn chế lạm phát sẽ được thực hiện”. Khuếch trương như vậy, nhưng việc thực hiện lại chẳng được bao nhiêu. Người ta biết rằng các biện pháp tiền tệ cần phải mất ít nhất 8 đến 10 tháng mới cho thấy kết quả.

Thuế nhập khẩu cho một số sản phẩm đã giảm. Tương tự như vậy, một số hàng hóa xuất khẩu cũng đã bị cấm. Tác động của những chính sách này sẽ không nhiều – khi mà thuế nhập khẩu bị cắt giảm và các nhà xuất khẩu ở nước ngoài tiến hành tăng giá thành sản phẩm, do vậy đã làm mất đi hiệu quả của việc giảm thuế.

Bản thân chính phủ đã bị rơi vào tình huống Catch 22[1]. Một điều bình thường xảy ra khi gặp tỷ lệ tăng trưởng cao hợp lý, bất kỳ biện pháp nào mong muốn cắt giảm nhu cầu tiêu dùng (chẳng hạn như tăng lãi suất hoặc tăng tỷ lệ dự trữ tiền mặt) đều có khả năng tác động xấu tới tăng trưởng, bỏ qua những khu vực quan trọng của xã hội.

Điều này là hết sức nguy hiểm khi năm nay là năm bầu cử. Hệ thống phân phối công cộng đã gần như sụp đổ và biện pháp tối thiểu (đã được đưa ra trên lý thuyết) hướng tới việc bảo vệ các khu vực dễ bị ảnh hưởng của xã hội đã không còn được áp dụng nữa.

Các chính trị gia thì vẫn tiếp tục đưa ra những lời cam kết quá xa vời và phi thực tế. Chẳng hạn, bang Kamataka ở miền Nam Ấn Độ do có cuộc thăm dò bầu cử vào tháng tới, một số lượng lớn các bản “cáo thị” của những người theo phái chủ nghĩa dân tuý[2] được đưa ra.

Một chính đảng đã hứa sẽ quy định giá gạo ở mức 2 rupi/ kg (tương đương 2,3 cent/ pound) và 6,5 triệu người dân của bang sẽ được cấp ti vi miễn phí. Với những biện pháp kém cỏi và chỉ đơn thuần là để thu thập số phiếu như vậy, thì tiền sẽ có từ đâu? Một điều mà chúng ta có thể chắc chắn đó là các đảng phái chính trị khác sẽ còn đưa ra cam kết kỳ lạ hơn thế.

Chính phủ nên làm gì?

Chúng ta cần ít cơ quan chính quyền hơn và tăng cường việc kiếm soát, đặc biệt là kiểm soát điện tử. Chi phí công cộng đã tăng từ 10 tỷ rupi của năm 1995 lên 3400 tỷ rupi trong năm 2007. Ủy ban Lương bổng (The Sixth Pay Commission) đã đệ trình bản báo cáo của mình gần đây.

Ủy ban đã đề xuất tăng 40% lương cho 3,5 triệu nhân viên chính phủ liên bang. Điều này cũng sẽ đem lại lợi ích cho 45 triệu nhân viên làm trong khu vực nhà nước, trong khi bỏ qua lợi ích của 375 triệu người đang làm việc cho khu vực bên ngoài.

Trong khi không ai cảm thấy ghen tị với các nhân viên chính phủ về mức lương bổng công bằng này, nhưng những đề xuất liên quan như việc cắt giảm nhân sự và xác định rõ trách nhiệm lại bị bỏ qua. Do vậy không có gì ngạc nhiên khi một nhà kinh tế gọi ủy ban này là “Ủy ban săn mồi”.

Ngân hàng trung ương nên chấm dứt việc cố định tỷ giá đồng rupi. Hãy thả nổi tỷ giá đồng rupi. Chính sách này nên được thực hiện trong một vài tháng tới. Một đồng rupi mạnh sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu. Đáng tiếc là, điều này cũng sẽ đồng nghĩa với việc lợi nhuận từ hàng xuất khẩu cũng sẽ giảm đi. Hàng xuất khẩu đã nhận được quá nhiều lợi ích nhờ đồng rupi giảm giá trị. Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi. Hãy để các doanh nghiệp của Ấn Độ tìm những phương hướng cạnh tranh khác.

Khu vực dễ bị ảnh hưởng nhất của xã hội là những khu vực không có tổ chức, do vậy cần phải có những hình thức bảo vệ. Sử dụng các công ty công cộng và tư nhân hoạt động không cần các trung gian có lẽ là cách duy nhất để giúp các khu vực dân cư này.

Một nhu cầu cấp thiết và hiển nhiên hiện nay đó là phải nâng cao sản lượng nông nghiệp và bảo đảm một mức giá công bằng cho nông dân. Năng suất nông nghiệp của chúng ta chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc. Tiến sỹ M S Swaminathan, người đi đầu trong việc thực hiện dự án cách mạng xanh đã đưa ra một số kiến nghị rất thực tế. Nhưng do không còn nắm giữ vị trí trong chính quyền, rất ít người nghe theo kiến nghị của ông.

Một nhân tố quan trọng dẫn đến việc giá cả tăng lên nhanh chóng trong những khu vực như bất động sản, tích trữ hàng hóa cho lãi đầu cơ, có thể là do việc hình thành một nền kinh tế song song với khả năng phát triển của kinh tế đất nước. Chúng ta không thấy một tiến bộ đáng kể nào trong 60 năm qua. Thời điểm mà chúng ta cần có những biện pháp mạnh mẽ chính là lúc này. Hủy bỏ nền kinh tế song song này chính là một giải pháp.

Phát hành một đồng rupi Ấn Độ hoàn toàn mới vào ngày 01/01/2009? Nếu ban đầu định giá 50 đồng rupi hiện hành bằng một đồng rupi mới, chúng ta sẽ có một đồng tiền mạnh, trong khi lại giảm được số lượng tiền lưu thông đi 50 lần. Các tài khoản ngân hàng sẽ được tự động chuyển đổi. Một lượng tiền mặt sẽ được phép chuyển đổi.

Cuối cùng, mặc dầu không có gì liên quan đến việc giá cả tăng lên, nhưng hiệp ước hợp tác hạt nhân dân dụng giữa Ấn Độ và Mỹ đã không còn được tiếp tục thực hiện. Chính phủ không muốn phải đối mặt với rủi ro phải tổ chức một cuộc bầu cử sớm nếu như muốn thực hiện hiệp ước này. Trì hoãn hiệp ước này thêm một năm đồng nghĩa với việc phải đàm phán với một chính phủ Mỹ mới. Chính phủ này có thể sẽ không mong muốn thấy hiệp ước này được ký kết như chính phủ hiện tại.

– Bài viết của B V Krishnamurthy đăng ở chuyên mục Lãnh đạo bàn luận trên trang Harvard Business Online –


theo InTeVeS