Ai sẽ lên ngôi thay Mỹ? bởi Nguyễn Quang

(DN.ODESA) – Vô cực sẽ khó khăn và nguy hiểm. Nhưng khuyến khích một mức độ hội nhập toàn cầu lớn hơn sẽ góp phần đẩy mạnh sự ổn định. Thành lập một nhóm chính phủ và các tổ chức nòng cốt tận tâm với chủ nghĩa đa phương hợp tác sẽ là một bước tiến lớn tới tương lai. Hãy gọi nó là “vô cực có dự tính”. Nó sẽ không xóa sổ thế vô cực, nhưng nó sẽ góp phần quản lý thế vô cực.

>>Thế giới đang đi tới vô cực (phần 1)

Sự lộn xộn của thế vô cực

Thế giới vô cực đang ngày càng lớn mạnh sẽ đưa đến những hệ quả tiêu cực cho Mỹ – và cho cả phần còn lại của thế giới. Washington sẽ ngày càng khó khăn để lãnh đạo trong những tình huống cần đến những phản ứng mang tính tập thể để đối phó với những thách thức khu vực và toàn cầu. Với quá nhiều thành phần sở hữu quyền lực đáng kể và đang cố gắng khẳng định ảnh hưởng của mình, rõ ràng việc xây dựng những phản ứng mang tính hợp tác và làm cho các thể chế hoạt động hiệu quả sẽ ngày càng khó khăn. Việc vòng đàm phán Doha về thương mại toàn cầu đi vào thế bế tắc chính là một ví dụ điển hình.

Thế vô cực cũng làm gia tăng các mối đe dọa và hiểm nguy mà một quốc gia như Mỹ phải đối mặt. Những nguy cơ này có thể xuất phát từ những quốc gia ẩn mình, các nhóm khủng bố, các nhà sản xuất năng lượng chọn cách giảm sản lượng, hoặc có thể là từ các ngân hàng trung ương – mà việc họ hoặt động hay không hoạt động đều có thể tạo ra những điều kiện gây ảnh hưởng tới vai trò và sức mạnh của đồng đô la Mỹ.

Iran cũng là một vấn đề. Nỗ lực trở thành một cường quốc hạt nhân của nước này chính là hậu quả của trạng thái vô cực. Nhờ giá dầu thô tăng vọt, Iran đã trở thành một trung tâm tập trung quyền lực đáng kể, nước có thể ảnh hưởng đến Iraq, Libăng, Syria và các vùng lãnh thổ của Palestine, cũng như xa hơn nữa là OPEC. Quốc gia này có rất nhiều nguồn công nghệ và tài chính và vô số các thị trường xuất khẩu năng lượng. Và vì thế vô cực, Mỹ không thể đối phó riêng với Iran. Thay vào đó, Mỹ lại phụ thuộc vào những thành phần quyền lực khác để họ ủng hộ việc trừng phạt về kinh tế và chính trị hay ngăn chặn sự tiếp cận của Iran với công nghệ và nguyên liệu hạt nhân. Vô cực lại sinh ra vô cực.

Tuy vậy, kể cả khi vô cực là không thể tránh khỏi, thì đặc tính của nó lại có thể. Diễn giải lời lý thuyết gia về các mối quan hệ quốc tế Hedley Bull, thì đời sống chính trị toàn cầu dù thế nào vẫn là sự pha trộn giữa tính hỗn loạn và và xã hội. Vấn đề là ở sự cân bằng và xu hướng. Có rất nhiều việc có thể và nên làm để tạo hình một thế giới vô cực. Trật tự sẽ không chỉ đơn giản là nổi lên. Ngược lại, nếu cứ để nó tự vận động, một thế giới vô cực sẽ ngày càng trở lên hỗn loạn hơn.

Mỹ có thể và nên có các bước đi để giảm thiểu nguy cơ thế giới vô cực sẽ trở thành một cái vạc bất ổn. Đây không phải là một lời kêu gọi chủ nghĩa đơn phương; mà là một lời kêu gọi Mỹ hãy tự sắp xếp ngôi nhà của mình. Đơn cực đã là quá khứ, nhưng Mỹ vẫn nắm trong tay nhiều khả năng hơn bất kỳ ai để cải thiện chất lượng của hệ thống quốc tế. Vấn đề là liệu Mỹ có tiếp tục nắm giữ những khả năng này không.

Năng lượng là vấn đề quan trọng nhất. Mức độ tiêu dùng và nhập khẩu hiện thời của Mỹ (cùng với những tác động bất lợi của chúng đối với khí hậu thế giới) đã tiếp sức cho thế vô cực thông qua việc đổ một nguồn tài chính khổng lồ vào các nhà sản xuất ga và dầu thô. Giảm tiêu dùng sẽ làm giảm áp lực lên giá cả thế giới, giảm nguy cơ thị trường Mỹ phải chạy theo các nhà cung cấp dầu thô và làm chậm sự thay đổi khí hậu. Tin tốt lành là điều này có thể được thực hiện mà không gây tổn hại tới nền kinh tế Mỹ.

Tăng cường an ninh quốc gia cũng là điều rất quan trọng. Chủ nghĩa khủng bố, giống như một căn bệnh, không thể bị triệt tiêu. Sẽ luôn luôn có những người không thể hòa nhập với xã hội và theo đuổi những mục tiêu không được chấp nhận trong đời sống chính trị truyền thống. Và đôi khi, cho dù những người chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia đã cố gắng hết sức, khủng bố vẫn thành công. Vì thế, điều cần thiết là những bước đi làm cho xã hội vững vàng hơn, một điều đòi hỏi nguồn vốn đầy đủ, đào tạo khả năng phản ứng trong hoàn cảnh cấp bách và cơ sở hạ tầng mềm dẻo và bền bỉ hơn. Mục tiêu nên là giảm thiểu hậu quả của cả những cuộc tấn công thành công.

Chống lại sự lan rộng của vũ khí hạt nhân và các nguyên liệu hạt nhân không được bảo vệ, với tiềm năng hủy diệt của chúng, có thể quan trọng không kém bất cứ một nhiệm vụ nào khác. Bằng việc thiết lập các ngân hàng năng lượng hay uranium giàu được quản lý quốc tế cho phép các quốc gia tiếp cận với các nguồn nguyên liệu hạt nhân nhạy cảm, cộng đồng quốc tế sẽ giúp các quốc gia sử dụng năng lượng hạt nhân để sản xuất ra điện thay vì bom.

Tuy nhiên, câu hỏi về việc sử dụng lực lượng quân đội để phá hủy các địa điểm tình nghi sản xuất vũ khí sinh học hay vũ khí hạt nhân vẫn còn đó. Tấn công phủ đầu – tấn công nhằm ngăn chặn nguy cơ có thể xảy ra – đang dần được chấp nhận rộng rãi hơn như một hình thức tự bảo vệ. Tấn công phòng ngừa – tấn công các cơ sở tình nghi khi không có dấu hiệu cho thấy các cơ sở đó được sử dụng – nhìn chung cũng là một kiểu như vậy. Bên cạnh những câu hỏi về tính khả thi, các cuộc tấn công phòng ngừa có xu hướng làm cho thế giới vô cực trở nên kém ổn định hơn, một phần là do các cuộc tấn công này thực ra lại khuyến khích sự phổ biến vũ khí hạt nhân (nhiều chính phủ có thể cho rằng phát triển hoặc sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ làm nhụt chí các ý đồ tấn công) và một phần là bởi vì chúng sẽ làm suy yếu quy tắc tốn tại đã lâu chống lại việc sử dụng lực lượng quân đội cho các mục đích khác ngoại mục đích để tự bảo vệ.

Cuộc chiến chống khủng bố cũng cần thiết để kỷ nguyên vô cực không biến thành Kỷ nguyên đen tối hiện đại. Có rất nhiều cách để làm suy yếu các tổ chức khủng bố đang tồn tại bằng cách sử dụng tin tức tình báo, tăng cường thi hành luật pháp và khả năng của quân đội. Nhưng cuộc chiến vẫn sẽ thất bại nếu không có các biện pháp ngăn chặn việc tuyển mộ của chủ nghĩa khủng bố. Các bậc phụ huynh, các lãnh đạo tôn giáo, và các lãnh đạo chính trị cần coi chủ nghĩa khủng bố là vi phạm pháp luật và làm cho những người chọn đi theo chủ nghĩa khủng bố thấy xấu hổ. Và quan trọng hơn, chính quyền cần phải tìm cách giúp những người trẻ tuổi thần kinh không bình thường hòa nhập vào xã hội, tạo cho họ các cơ hội về chính trị và kinh tế.

Thương mại có thể là một công cụ mạnh để hội nhập. Nó giúp các quốc gia tránh được xung đột vì sự bất ổn có thể ảnh hưởng xấu đến các thỏa thuận thương mại có lợi, tạo ra nhiều của cải hơn và củng cố nền tảng trật tự chính trị trong nước. Thương mại cũng thúc đẩy sự phát triển, qua đó làm giảm nguy cơ tụt hậu và cô lập trong nhân dân. Phạm vi của Tổ Chức Thương Mại Thế giới cần phải được mở rộng thông qua quá trình đàm phán về các thỏa thuận toàn cầu trong tương lai, nhằm giảm thiểu bao cấp, giảm các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Xây dựng sự hỗ trợ chính trị trong nước dành cho những đàm phán như thế ở các quốc gia phát triển sẽ đòi hỏi sự mở rộng các mạng lưới an toàn khác nhau, bao gồm cả chăm sóc y tế di động và quỹ hưu trí, hỗ trợ giáo dục và đào tạo, bảo hiểm lương. Những cải tiến chính sách xã hội này rất tốn kém và trong một số trường hợp là không xác đáng (nguyên nhân của thất nghiệp sắp tới sẽ là sự cải tiến công nghệ chứ không phải là cạnh tranh quốc tế nữa), nhưng vẫn đáng có.

Cũng cần phải có nỗ lực tương tự để đảm bảo dòng chảy đầu tư được tiếp tục. Mục tiêu nên là tạo ra một Tổ chức đầu tư thế giới để khuyến khích dòng vốn đầu tư xuyên biên giới, qua đó giảm thiểu cơ hội mà “chủ nghĩa bảo hộ đầu tư” thu được qua những hoạt động mang lại lợi ích kinh tế như thương mại và dựng lên những bức tường chính trị chống lại sự bất ổn. Một Tổ chức đầu tư thế giới có thể khuyến khich sự minh bạch của các nhà đầu tư, xác định khi nào an ninh quốc gia là lý do xác đáng để ngăn chặn hay hạn chế đầu tư nước ngoài và thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp.

Cuối cùng, Mỹ cần phải tăng cường khả năng ngăn ngừa sự thất bại và phải luôn sẵn sàng đương đầu với những hậu quả. Điều này đòi hỏi phải xây dựng và duy trì một lực lượng quân đội hùng mạnh hơn, một lực lượng có đủ khả năng đối phó với loại nguy cơ Mỹ đã phải đối mặt tại Afghanistan và Iraq. Điều đó cũng có nghĩa là cần thiết lập chính quyền dân sự bên cạnh quân đội để tập hợp các tài năng trong công cuộc xây dựng đất nước. Tiếp tục hỗ trợ kinh tế và quân sự sẽ là vô cùng cần thiết để giúp đỡ các quốc gia yếu kém có thể đáp ứng trách nhiệm của họ với công dân trong nước và quốc gia láng giềng.

Cường quốc không cô đơn

Chủ nghĩa đa phương sẽ là cần thiết để đối phó với một thế giới vô cực. Mặc dù để thành công, chủ nghĩa này cần phải được xem xét lại để thu nhận thêm những thành tố khác ngoài các cường quốc lớn. Hội đồng bảo an LHQ và nhóm G-8 (nhóm các nước công nghiệp phát triển cao) cần phải được “tái tổ chức” để phản ảnh thế giới ngày nay và chứ không phải là kỷ nguyên hậu Thế chiến thứ hai.

Một cuộc họp gần đây tại Liên Hợp Quốc về cách thức phối hợp tốt nhất các phản ứng toàn cầu trước các thách thức về y tế công cộng đã tạo lên một mô hình kiểu mẫu. Đại diện các chính phủ, các cơ quan Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ, các công ty dược phẩm, các tổ chức, các nhóm chuyên gia cố vấn, và các trường đại học đều tham dự buổi họp. Thành phần tham dự tương tự cũng có mặt ở cuộc hội nghị về thay đổi khí hậu tháng 12/2007 ở Bali.

Chủ nghĩa đa phương có thể kém trang trọng và toàn diện, nhưng ít nhất nó đang trong giai đoạn đầu tiên. Các mạng lưới cần có bên cạnh các tổ chức. Để tất cả mọi người cùng tán thành về tất cả mọi thứ sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn; thay vào đó, Mỹ nên xem xét việc ký kết các hiệp ước với ít bên hơn và với những mục tiêu hẹp hơn. Thương mại là hình mẫu ở đây, khi mà các hiệp định song phương và khu vực đang lấp đầy khoảng trống do sự thất bại trong việc hoàn tất vòng đàm phán thương mại toàn cầu tạo ra. Có thể áp dụng cách tiếp cận tương tự với vấn đề thay đổi khí hậu, nơi mà các cam kết về từng các khía cạnh của vấn đề (như việc chặt phá rừng) hay thỏa thuận trong phạm vi một số quốc gia (ví dụ như các quốc gia thải nhiều khí carbon) cho thấy tính khả thi cao hơn, trong khi một hiệp ước có sự tham gia của nhiều quốc gia và cố gắng giải quyết mọi vấn đề lại không khả thi.

Thế vô cực khiến cho ngoại giao trở nên phức tạp hơn. Một thế giới vô cực không chỉ có sự tham gia của nhiều thành tố hơn mà còn thiếu hụt những cấu trúc cố định và các mối quan hệ có thể định hình thế giới như đơn cực, lưỡng cực, hay đa cực. Đặc biệt, các khối liên minh sẽ đánh mất dần tầm quan trọng của họ, nếu chỉ bởi vì họ đòi hỏi những nguy cơ, triển vọng, và các nghĩa vụ có thể dự đoán được, trong khi tất cả những điều này chắc chắn sẽ không được cung cấp đầy đủ trong một thế giới vô cực.

Các mối quan hệ thay vào đó sẽ mang tính lựa chọn và tình huống hơn. Việc phân loại các quốc gia là đồng minh hay kẻ thù vì thế sẽ trở lên khó khăn hơn. Việc đáng làm hơn là xây dựng sự đối thoại, liên minh và một chính sách đối ngoại khuyến khích sự hợp tác khi có thể và bảo vệ sự hợp tác này trước sự thất bại của những bất đồng không thể tránh khỏi. Mỹ sẽ không còn sở hữu chính sách đối ngoại xa xỉ “theo tôi hoặc chống tôi” nữa.

Vô cực sẽ khó khăn và nguy hiểm. Nhưng khuyến khích một mức độ hội nhập toàn cầu lớn hơn sẽ góp phần đẩy mạnh sự ổn định. Thành lập một nhóm chính phủ và các tổ chức nòng cốt tận tâm với chủ nghĩa đa phương hợp tác sẽ là một bước tiến lớn tới tương lai. Hãy gọi nó là “vô cực có dự tính”. Nó sẽ không xóa sổ thế vô cực, nhưng nó sẽ góp phần quản lý thế vô cực.

T.M.T dịch
theo Foreign Affairs