Đó là những lời chân thành thốt lên từ một người phụ nữ Mỹ kém Bác Hồ gần 50 tuổi, bà Josephine Stenson, một nhà nghiên cứu lịch sử. Bà đã nói những điều này trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội tháng 5 năm 1990.

_______________________________

Xin cho phép tôi được mặc chiếc áo dài của người mẹ Việt Nam, người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình. Và thời nay, có một người mẹ đã sinh ra thiên tài Hồ Chí Minh. Bà cũng đã mặc tà áo này. Hôm nay tôi mặc tà áo này không phải để chưng ra món quà sang trọng của bạn bè Việt Nam tặng cho tôi. Đây là sự ngưỡng mộ một sắc phục dân tộc mà chưa có một sắc phục phụ nữ nào lại đẹp, có văn hoá, bề dày truyền thống và thanh lịch như chiếc áo dài Việt Nam. Từ Hoa Kỳ, tôi sang Thái Lan và vào Thành phố Hồ Chí Minh, thấy ngỡ ngàng khi nhìn thấy nữ sinh các trường đều mặc áo dài – những chiếc áo dài tuyệt đẹp. Tôi như bị thôi miên cứ đứng nhìn ngây ngất những tà áo dài mềm mại trên thân hình rất đẹp của các nữ sinh. Trong khi đó, một cảm giác buồn tương phản đột nhiên xâm chiếm trong tôi một cách bất ngờ khi tôi nhìn thấy nhiều chị em khác cũng tại thành phố này mặc những bộ đồ mà những người phụ nữ Mỹ chúng tôi đã bỏ từ thập kỷ 60 sang thập kỷ 70. Khi ra Hà Nội tôi hiểu được bề dày về nền văn minh Sông Hồng, nhưng không giống như Thành phố Hồ Chí Minh, phụ nữ ít mặc áo dài, son phấn, phần lớn họ mặc quần áo giống như phụ nữ Bangkok và Philippines.

Bà Josephine Stenson

Hồ Chí Minh là người mà tôi dành nhiều thời gian nhất trong đời nghiên cứu lịch sử của tôi để tìm hiểu cho được đích thực tính cách của Người. Tôi thuộc thế hệ tuổi con cháu Bác Hồ Chí Minh. Cho phép tôi được ca ngợi lời ca muộn mằn của người hậu thế.

Tôi đã tự bỏ tiền túi ra để đi từ Mỹ sang Pháp và Liên Xô cũ: Những nơi mà Hồ Chí Minh đã đặt chân tới, để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh. Tôi đã ở Liên Xô một thời gian tương đối lâu để nghiên cứu về Bác. Khi về Mỹ, tôi lại đi từ New York đến các đảo của vùng Đông Bắc châu Mỹ, nơi Bác Hồ đã đi tàu xuyên đại dương đến đó. Tôi quyết tâm đi tìm cho được lai lịch văn hóa Hồ Chí Minh, mặc dù ngày đó người ta vẫn chưa thừa nhận Người là danh nhân văn hoá của thế kỷ.

Qua nghiên cứu tôi thấy rằng:

– Bác Hồ chọn việc bồi bàn trên tàu là để có điều kiện đi đến được nhiều quốc gia.
– Bác Hồ chọn việc làm ở khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc được với nhiều chính khách.

Thế nhưng người ta hiểu sai rằng Bác Hồ làm đủ mọi nghề chỉ là để kiếm sống, không đúng!

Tôi đã đến Luân Đôn tìm hiểu và thấy Nguyễn Ái Quốc kết thân với một số nhà đại văn hào, các nghệ sĩ danh tiếng như Romans, Darwin, vua hề Charlie (Sạc-lô)…… Người ta đồn rằng Bác Hồ biết 28 thứ tiếng, nhưng theo kết quả tìm hiểu của tôi thì Bác biết khá sành sỏi 12 thứ tiếng.

Tôi xin dâng tặng những lời ca ngợi đẹp nhất về Hồ Chí Minh, sau khi tôi đã đi đến những nơi có dấu chân Người đi qua, gặp lại những người đã biết về Người và đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh lúc còn trẻ là một thanh niên… rất đẹp trai, cho nên đến tận bây giờ tôi vẫn cứ mơ ước về Người. Nếu tôi cùng thời với Người thì dứt khoát phải trở thành người yêu của Người. Người không chấp nhận, tôi cũng đeo đuổi đến cùng… Tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của một người con gái hậu thế.Khi tôi đã yêu Người và tôn kính Người ở góc độ khoa học thì tôi nghĩ ngay đến tượng Thần Tự Do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng và ca ngợi tượng Thần Tự Do. Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến đây như mọi chính khách, sau khi đến tham quan tượng Thần Tự Do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi ngôi sao tỏa sáng trên vòng nguyệt quế là ánh sáng tự do… Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem Thần Tự Do, nhưng lại chỉ nhìn dưới chân tượng và ghi: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng Thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”

Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân tượng Thần Tự Do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người, không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức tượng Thần Tự Do. Chính vì thế mà hôm nay tôi đến đây, tìm đến con người này – Hồ Chí Minh – để xem giữa lời nói và việc làm của Người có mâu thuẫn không?

Nguyễn Ái Quốc

Hồ Chí Minh quả thật là con người nói và làm đi đôi. Tôi đã vào nhà của Người. Lục tìm tài sản riêng của Người. Người không có tài sản riêng. Thật rất lạ và hiếm thấy, chính khách nào khi cầm quyền cũng đều ban hành sắc lệnh tôn trọng và bình đẳng cho phụ nữ nhưng khi sắc lệnh ký xong thì bản thân họ lại vào nhà thổ, cho phép phát triển kỹ nghệ “đàn bà”. Thậm chí một vị Tổng thống có đến ba bốn tình nhân. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành đứng trước tượng Thần Tự Do ghi những điều trên khi mình còn lầm than, rồi khi làm Chủ tịch một nước và khi qua đời, trên giường vẫn vắng hơi ấm của đàn bà. Con người khi làm Chủ tịch nước 24 năm đến lúc qua đời trên giường không có hơi ấm của đàn bà.

Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân, Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình thường sống hòa lẫn vào trong cuộc sống của xã hội chứ không phải siêu phàm.

Tôi đọc nhiều tư liệu về Người và biết Người được nhiều phụ nữ yêu. Bà Lared theo đuổi Nguyễn Ái Quốc nhiều năm. Trong những đêm đi họp về, hai người đi bên nhau trên bờ sông Seine, bà tỏ tình mà Nguyễn Ái Quốc không mềm lòng. Khi bà qua đời, để lại cuốn nhật ký, tôi được đọc quyển nhật ký đó và hiện giờ con gái bà đang giữ. Con bà cũng nói với tôi: “Mẹ tôi yêu Nguyễn Ái Quốc”. Đấy, tôi phải đi tìm cho được những bằng chứng như vậy mới đủ cơ sở khẳng định nhân cách một con người của thời đại. Đúng, Hồ Chí Minh là nhân cách của thời đại.

Tôi cũng đến khách sạn Bostonở Đông Bắc nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành ở đó làm thợ nặn bánh mì gần một năm trời và sau này chính các nhà đại văn hào châu Âu qua Mỹ đều ở Khách sạn này. Nguyễn Tất Thành đã ghi lại tên tất cả những chính khách đến ở trong khách sạn Boston. Tại đây có một cô gái quốc tịch Mỹ gốc Pháp tên Côlét đã yêu say đắm Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành rất thích nghe hát và xem kịch, nhất là kịch cổ điển. Được biết Hồ Chí Minh rất yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ thuật rất phong phú, nhưng Nguyễn Tất Thành rời nước ra đi không phải để hoạt động chính khách mà Người đi tìm đường cứu dân tộc. Côlét khuyên dụ ông đi với bà và tỏ ý muốn kết hôn với Nguyễn Tất Thành, nhưng Người đã tìm cách an ủi Côlét để từ chối. Sau đó một thời gian, Côlét trở thành một nhà văn lớn có tên tuổi. Nguyễn Tất Thành tâm sự và bà Côlét kể lại: “Nếu tôi muốn có một văn bằng thì tôi đã thi năm 1904 ở trong nước, vì lúc đó tôi có một người con gái quê nhà yêu mà đành bỏ lại trên bến cảng để ra đi”.

Vừa rồi, tôi có đọc một bài hồi ký đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự của Viện quân sự Hoa Kỳ do một số sĩ quan Anh – Mỹ trong đội quân của Đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả bài hồi ký viết: “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa, chúng tôi có hỏi – không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau – tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

Như vậy chúng ta thấy Bác Hồ là một người cũng như mọi người, cũng khát vọng tình yêu, cũng mong muốn có mái ấm gia đình, nếu có ai đó cho rằng những cái đó là nhỏ bé làm cho Bác Hồ kém vĩ đại là không đúng. Vì chính những cái đó khiến Bác càng vĩ đại; nhất là trong thời đại hiện nay; một số đông người đã tha hóa do chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống.

Tôi đã đi Quảng Châu và tôi biết Nguyễn Ái Quốc còn có một người yêu nữa tên Lý Phương Liên (bí danh), thư ký của Đông Phương bộ thuộc cục Phương Nam, là vợ của Lý Thụy (Bác Hồ) ở phố Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc. Thực tiễn cuộc sống có những việc nhìn thấy tận mắt chưa hẳn là thật. Khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số người trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sang dự một khóa học chính trị tại nhà số 13 phố Văn Minh cũng tưởng Lý Phương Liên là vợ của Lý Thụy, nhưng sau mới biết thực tế không phải như vậy, đây chỉ là việc ngụy trang để che mắt mật thám.

Tôi không coi vấn đề này quan trọng, tuy vậy thời gian tôi đến Liên Xô, tôi cũng biết có một cô gái Nga yêu Người, yêu tới mức bà ta không lấy được Nguyễn Ái Quốc và suốt đời ở vậy cho đến già rồi chết. Có một nhân chứng người Nga được bà ta tâm sự kể lại với tôi rằng: “Hai người yêu nhau, nhưng không dám lấy. Nguyễn Ái Quốc nói lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, làm cha và rồi thế nào mật thám cũng phát hiện ra, cho nên Nguyễn Ái Quốc không lấy vợ và tôi cũng không lấy chồng.”

Dân tộc Việt Nam mãi mãi tự hào về Hồ Chí Minh, nền văn minh nhân loại của thế kỷ XX này luôn tự hào có một vĩ nhân được cả thế giới, đại diện bởi UNESCO, phong tặng Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương sáng về nhân cách một người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau.

Josephine Stenson, Hà Nội, tháng 5 năm 1990

T.C dịch

»Cùng chủ đề