Con người giàu nhất hành tinh này không giống các tỷ phú khác, sống tằn tiện, khước từ kỹ thuật hiện đại (máy vi tính, điện thoại di động, Internet…, nghiêm khắc trong cách dạy con cái và chọn một ông già khác làm người kế vị.

Nhà đầu tư thông minh nhỏ tuổi

Warren Buffett sinh năm 1930, tại Omaha, bang Nebraska, một bang chủ yếu làm nông nghiệp, thuộc loại nghèo ở miền Trung Hoa Kỳ.

Dường như nhà tài phiệt lớn nhất hành tinh này là một người có năng khiếu kiếm tiền bẩm sinh. Lúc lên 5, chú bé đã thích chơi trò mua bán từ những đồng cent, thường bày bán kẹo cao su trong nhà. Lớn hơn chút nữa, chú vào các sân golf nhặt nhưng trái ban của người chơi bỏ lại, về cọ rửa và mang đi bán lấy tiền. 11 tuổi bắt đầu để dành tiền mua cổ phiếu và mua được chiếc xe đạp 35 đôla. Học trung học, nhà không khá giả lắm (bố là một chính khách nghèo), chú đạp xe bỏ báo cho các gia đình. Năm 14 tuổi dốc toàn bộ vốn liếng, được 1.200 đôla mua lại một nông trại nhỏ rồi cho thuê kiếm lời. Quyển sách Buffett đọc say mê hồi nhỏ và rất ngưỡng mộ tác giả của nó là Nhà đầu tư thông minh của Benjamin Graham.

Chính vì thế mà sau này, sau khi tốt nghiệp khoa Kinh tế tài chính ĐH Pennsylvania, chàng thanh niên Buffett từ chối lời mời của ĐH Harvard danh tiếng để đến thọ giáo Graham, được ông này dạy cách nhận định thị trường chứng khoán, đánh giá các cổ phiếu thông qua việc phân tích lỗ lãi của một doanh nghiệp cũng như những kinh nghiệm và mưu mẹo trong kinh doanh.

Từ kẻ “quét chợ” cần mẫn…

Năm 21 tuổi (1951), Warren Buffett đã chính thức bước vào thương trường với vốn khởi nghiệp là 100 USD. Ông thành lập Công ty TNHH Buffett với sự hùn vốn của bạn bè và không đầy 1 năm sau, ông đã có một công ty kha khá. Cách làm việc của ông là: suốt ngày vùi đầu vào đống tư liệu với một việc duy nhất là tìm kiếm những cổ phiếu bị đánh giá thấp nên có giá trị rẻ hơn bản thân nó để mua và… chờ. Người ta ví công việc của Buffett giống như một kẻ quét chợ đi thu gom những vật dụng bị ế thừa.

Mặc dù kiểu đầu cơ thường mang lại những món lợi nhuận kếch xù trên thị trường cổ phiếu nhưng không bao giờ Buffett làm việc này vì ông cho rằng giá trị cổ phiếu phải được hình thành trên nền tảng kinh doanh sản xuất của các xí nghiệp chứ không phải từ những mánh khoé đầu cơ.

Tháng 6/1968, khi thị trường cổ phiếu đang vang lên khúc ca khải hoàn thì Buffett thông báo cho những người hùn vốn, ông sẽ rút lui và ẩn dật. Tháng 6/1969, cổ phiếu tụt nhanh, dần trở thành một thảm họa. Tháng 5/1970, tất cả các loại cổ phiếu đều mất giá từ 50% trở lên. Biết bao nhiêu người phá sản (trong đó ông thầy của Buffett là Graham bị trắng tay) thì ông vẫn… vô sự.

Rút lui, ẩn dật không có nghĩa là ngừng suy nghĩ. Ngồi trong chiếc ghế bành nhung mềm mại, Buffett quan sát thị trường chứng khoán ngày càng ảm đạm. Trường kỳ mai phục, ông đã vớ được liều thuốc bị bỏ quên và quyết định thu mua một số lớn cổ phần của Công ty dệt Bershire Hathaway ở bang Massachusetts đang lâm vào cảnh phá sản, nhằm di chuyển những khoản tiền vốn ứ đọng của mình để tạo lập công cụ cho tập đoàn tài phiệt trong tương lai (xí nghiệp nhỏ bé này sẽ là nền tảng trong sự nghiệp của ông).

Thời gian 1970-1974, thị trường cổ phiếu của Mỹ như quả bóng xẹp hơi. Đồng tiền mất giá, kinh tế trì trệ. Chính lúc này, Buffett nhận định là thời cơ của mình đã tới. Ông lặng lẽ vơ vét ở bất kỳ nơi nào có thể vơ vét được và chuẩn bị chơi một vố lớn để phất lên như diều.

Sách của tỷ phú Warren Buffett đã dịch ra tiếng Việt

Thấy báo chí là ngành kinh doanh cực kỳ béo bở, ông “gặm nhấm” dần các tờ Boston Globe và The Washington Post và áp dụng triệt để những học thuyết kinh doanh của mình. Dưới sự điều hành của ông, cổ phiếu của The Washington Post tăng hàng năm 35%. Khi ông bỏ 10 triệu đôla mua cổ phiếu của tờ báo này thì 10 năm sau, số tiền ấy đã vọt lên trên 200 triệu đôla.

Thương vụ ngoạn mục thứ hai là vét cổ phiếu của Coca-Cola mà ta đã nhắc ở phần trước. Công ty Bershire Hathaway do ông mua lại năm 1965 đến cuối năm 1994 đã trở thành một vương quốc công nghiệp với tài sản 23 tỷ đôla. Ai đó cùng với ông góp 10.000 đôla lúc ban đầu thì nay đã ung dung với tài sản 11,3 triệu đôla.

Warren Buffett bỗng nổi tiếng thế giới về tài kinh doanh siêu việt và những thành công làm giàu huy hoàng. Ông không hề giữ bí mật về những cố phiếu đóng góp vào những doanh nghiệp nào, và không ít công ty cổ phiếu của ông chiếm đa số khiến ông nắm được vị trí điều hành, trong đó có công ty thuộc ngành bảo hiểm (Geico, General Re), công ty vàng bạc (Borsheime), thực phẩm (Dairy Queen, See’s Candies), dịch vụ (MidAmerican Energy), đồ uống (Coca-Cola).

… đến người giầu nhất thế giới

Nói đến tỷ phú, người ta thường nói về những thói chơi ngông, ăn tiêu xa xỉ, những bãi biển xa hoa, những biệt thự lộng lẫy, những hòn đảo bí mật làm chốn ăn chơi… Song những điều này không thấy ở Warren Buffett.

Đi lên từ giới bình dân, con người giàu nhất thế giới ở tuổi 78 vẫn giữ được cách sống bình dân suốt cả cuộc đời. Ông có quan điểm riêng đối với tiền tài. Ông cho rằng tiền đến từ xã hội, sớm muộn nó cũng phải quy hồi cho xã hội.
Từ hồi thanh niên, ông chẳng bao giờ để ý đến thời trang, ăn diện. Nhà tài phiệt hàng đầu thế giới không sống ở Trung tâm tài chính quốc tế là phố Wall – tuy có biệt danh là “sát thủ ở phố Wall – mà phần lớn thời gian trong ngày, ông chỉ ru rú ngồi ghi nghi chép chép hoặc vò đầu suy nghĩ trong ngôi nhà ở ngoại ô Omaha, bang Nebraska, mua cách đây nửa thế kỷ với giá hồi đó là 31.500 USD. Ông lý luận, chỉ những người đầu tư chứng khoán ngắn hạn, mang tính chụp giật mới cần theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường và sống ở phố Wall. Thành công của họ không lớn. Còn ông, chỉ cần đứng trước gương, tự hỏi mình có nên đầu tư vào một công ty nào đó khi bị tất cả mọi người “ruồng rẫy” không thì ở đâu chẳng được.

Những lúc rỗi rãi, Buffett ngồi chơi bài bridge với mấy ông bạn già, với hai người bạn vong niên tâm đầu ý hợp là Bill Gates và Paul Allen, những đại gia của Microsoft. Năm 2006, ông đặt ra Buffett Cup trao tặng cho giải vô địch môn chơi bài này trong những trận so tài giữa 12 tay chơi chọn từ Mỹ và 12 đối thủ đến từ châu Âu.

Chẳng biết có phải là người bảo thủ hay không, nhưng Buffett không dùng điện thoại di động, trên bàn làm việc của ông không có máy tính cá nhân và vẫn tự lái ô tô đi lại ở tuổi xấp xỉ 80 mà không thuê tài xế.

Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào

Ba người con Susie, Howard và Peter từ thủa nhỏ hầu như không được hưởng bất cứ sự biệt đãi nào từ ông bố tỷ phú. Ông luôn cảnh báo họ đừng trông chờ để hưởng những di sản khổng lồ sau khi ông mất. Người ta thường kể trước yêu cầu khẩn khoản của vợ, ông đồng ý mua cho con cả là Howard một trang trại song với điều kiện là phải nộp lãi cho ông theo một hợp đồng do ông quy định, nộp thiếu lập tức bị thu hồi. Hoặc đối với cô con gái rượu, khi vay ông 20 USD tiền mặt để gửi xe ở sân bay khi ra đón ông, lập tức cô phải viết ngay một tấm séc để trả vào tài khoản của ông.

Nhưng nhờ vậy, những người con đều phải tự mình làm việc cật lực như ông thời trẻ và họ có một vị trí nhất định trong xã hội. Cô con gái lớn Susie vốn là một ca sĩ không mấy tài năng, hiện bỏ nghề về quản lý Quỹ từ thiện Susan A. Bufett Foundation và là thành viên Hội đồng quản trị công ty Girls Inc. Người con trai cả Howard (sinh năm 1954) là một chuyên gia nông nghiệp, viết những quyển sách về đa dạng sinh học, và bảo tồn thiên nhiên, hiện là Đại sứ ở LHQ trong tổ chức chống đói nghèo của Chương trình lương thực thế giới. Người con thứ hai, Peter (sinh năm 1958) là một nhạc sĩ khá nổi tiếng, đồng thời là nhà sản xuất băng đĩa âm nhạc.

Trong bản di chúc công bố công khai, ông chỉ để cho vợ được thừa kế 1% di sản của mình và không nhắc gì đến phần dành cho con cái.

Buffett cưới bà Susan Thompson năm 1952. Họ sống ly thân từ năm 1977 và bà vợ chết năm 2004. Vào đúng dịp sinh nhật thứ 76, ông cưới bà Astrid Menke do chính cô con gái sắp xếp.

Trong di chúc công khai, Buffet nói sau khi ông chết, 99% tài sản khổng lồ của ông sẽ được dùng làm từ thiện. Và không chờ đến khi ông chết, những số tiền làm từ thiện đã được trao. (Thật ra, các nhà tỷ phú làm từ thiện không phải là chuyện lạ. Bởi nhiều nước đã quy định, chỉ được để lại cho con cháu, người thân… một số tối đa là bao nhiêu đó, còn thì sung công. Nhiều trường hợp, tài sản thừa kế bị đánh thuế thu nhập theo lũy tiến, người được nhận chẳng còn bao nhiêu, thậm chí không có tiền đóng thuế, nếu bản thân không sẵn tiền thì không dám nhận. Do vậy, chẳng thà trao luôn cho các quỹ từ thiện để lấy tiếng còn hơn). Với Buffett có những điều đặc biệt, thể hiện sự tự nguyện.

Tháng 6/2006, Warren Buffett đã chuyển giao cho Quỹ Bill&Melinda Gates 10 triệu cổ phiếu của minh trong Tập đoàn Bershire Hathaway (có giá trị tính vào thời điểm đó tương đương 30,7 tỷ USD) và trở thành một món tiền từ thiện lớn nhất trong lịch sử loài người. Đây là Quỹ từ thiện do vợ chồng tỷ phú Bill Gates thành lập năm 2000, nhằm mục đích y tế và giáo dục bao gồm nhiều chương trình toàn cầu như tiêm chủng cho trẻ em tại các nước thế giới thứ ba, tuyên truyền chống sự lây lan của HIV/AIDS và tài trợ nghiên cứu trong lĩnh vực này, lập hệ thống thư viện công cộng cho toàn dân ở nhiều nước, cấp học bổng cho sinh viên nghèo, thực hiện chương trình nước sạch cho các nước nghèo, chương trình nông nghiệp ở châu Phi, chương trình đưa tin học vào nhà trường ở các nước…). Kể từ 23/6/2006, mỗi năm Quỹ sẽ được nhận để chi tiêu 5% số tiền trên. Bằng số tiền tặng của Buffett, tiền của Quỹ đã tăng lên gấp đôi. Ông cũng ở trong Ban Giám đốc của Quỹ này, và không tham gia tích cực vào việc điều hành.

Buffett tài trợ 6,7 tỷ USD đồng thời chuyển số tiền thừa kế 2,6 tỷ USD của bà vợ ông khi chết (2004) vào Quỹ từ thiện của cô con gái (Susan Thompson Buffett Foundation) và các Quỹ khác do 2 con trai ông phụ trách.

Từ năm 2000, Buffett còn kiếm tiền cho Quỹ Glide bằng cách mà chỉ riêng ông mới có thể làm được, đó là đấu giá một bữa ăn và trò chuyện của bản thân ông với bất cứ ai có mong muốn với giá 650.100 USD. Tháng 9/2006 ông bán đấu giá chiếc xe ô tô cũ của ông được 73.200 USD để hỗ trợ cho công ty Girls. Inc. của Susan.

Năm 2006, Warren Buffett đã tuyên bố chọn “người kế vị” mình để điều hành việc kinh doanh sau khi ông lui vào hậu trường tài chính. Đó là Lou Simpson, người đang phụ trách khối những công ty bảo hiểm thuộc tập đoàn Bershire Hathaway. Điều “ngộ nghĩnh” là “Thái tử” là một ông già đã 72, trong khi “Hoàng đế” vẫn chấp chính, chưa chịu buông rèm làm “Thái thượng hoàng”.

Tuấn Hà tổng hợp