Cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng, lúc về già nhìn trước ngó sau chỉ còn một mình lẻ bóng. Với bà, dường như sinh ra để gánh những bất hạnh, khổ đau. Tài năng, xinh đẹp, có lúc cuộc đời từng cho bà những gì bà muốn, nhưng tất cả thoáng chốc lại trở về hư vô. Những người con ruột bà sinh ra do hoàn cảnh đều sớm phải xa lìa. Cuối đời, bà phải nương tựa vào người con nuôi tật nguyền nhận nuôi từ đồng đội.
PS: Đặng Hoàng Ánh (tên khai sinh là Nguyễn Phúc Ngọc Diệp) sinh ngày 28/4/1932 ở Huế trong một gia đình “danh gia vọng tộc”. Theo nhiều tài liệu lịch sử, Đặng Hoàng Ánh là con bác con chú ruột, chung một người ông với vua Bảo Đại và là cháu nội của Thái hậu Từ Dũ (mẹ của vua Tự Đức).

Con đường tình báo của Nguyễn Phúc Ngọc Diệp bắt đầu từ biến cố trong bối cảnh đất nước bị xâm lăng, nhiều người thân trong gia đình thiệt mạng, chỉ duy nhất Ngọc Diệp được cán bộ cách mạng là đồng chí Phạm Hùng cứu thoát. Khi ấy, bà chỉ khoảng 11 tuổi. Chính tuổi thơ bất hạnh, thời thế loạn lạc đã dẫn lối đưa đường một thiếu nữ 11 tuổi như bà đi theo con đường cách mạng. Mong ước đền nợ nước, trả thù nhà là động lực để bà cố gắng học hỏi và trở thành một nhà tình báo xuất sắc, luồn sâu trong lòng địch, thực hiện những trận đánh cảm tử rúng động chính quyền địch.

Bản thân may mắn được đồng chí Phạm Hùng cứu đưa về Sài Gòn giao gửi cho đồng chí Phạm Văn Xô cưu mang và nuôi nấng. Bà được các đồng chí che chở tránh sự truy sát (vì bà là con của Trần Lệ Chất chống Pháp), gom tiền cho đi học và hướng tư tưởng vào con đường cách mạng. Sau này khi lớn lên bà vẫn coi đó là 2 người anh thân tín, bà luôn quý như cha, như anh ruột của mình. Những lúc buồn muốn buông xuôi, anh Hai Xô (đồng chí Phạm Văn Xô) lại động viên: “Út Diệp, em phải nhẫn nhục cố học cho thành tài, hôm nay mây mù, ngày mai sẽ có bình minh chiếu sáng, sau lũ lụt đất nhiều phù sa, cây lại tươi tốt”.

Tham gia vào trong lực lượng Cảm tử quân của Trung ương Cục miền Nam và Biệt động thành Sài Gòn, do yêu cầu công tác bí mật, để che mắt địch, Ngọc Diệp phải thay tên, đổi họ liên tục: Ba Diệp (tức Nguyễn Như Diệp); Cô Tư Mắt Kiếng (vì bị cận thị, phải đeo kính thường xuyên); Lâm A Mùi (thời gian sang Lào vận chuyển vàng và đôla về Việt Nam, 1961-1962); Hoàng Nga (thời gian làm tiếp tân Tổng thống phủ Sài Gòn, 1964-1965); T2R; TW307…

Đọc thêm: ‘Bông hồng’ trong lòng địch: Từ Quận chúa đến biệt động thành

Những nữ tình báo tài sắc của Việt Nam 

Kỳ cuối: Khoảng lặng tuổi xế chiều của một điệp viên lừng lẫy

Giông tố của đời thường

Bà Ánh từng bước khập khễnh dẫn tôi vào nhà, đó là di chứng của lần ở tù bị địch tra tấn dã man, bà bị cắt gân. Trên hốc mắt vẫn còn một mảnh đạn nhỏ găm sâu, lúc trái gió trở trời những vết thương lại tại phát. Đó là hậu quả của những trận đánh bom cảm tử.

Ba Diệp tổi xế chiều

Bà kể, ngày 27/ 8/1969, sau khi tiến hành vụ ám sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không thành, bà xung phong đánh bom cảm tử vào rạp Ngọc Lan – TP Đà Lạt, khiến hàng trăm sĩ quan Mỹ, và chính quyền Sài Gòn chết và bị thương. Tiếp đó bà lại xung phong cùng đội cảm tử sang công tác và chiến đấu tại chiến trường Lào 3 năm.

Cuối tháng 4/1972, bà bí mật về nước để cùng một nhóm biệt động thâm nhập vào cứ điểm Đắc Tô – Tân Cảnh của chính quyền Sài Gòn, góp phần cùng bộ đội chủ lực tiêu diệt chúng. Khi vừa trở lại Đà Lạt thăm con, mua gạo tiếp tế cho Khu 6, bà đã không may bị phục kích, bà bị bắt khi đang ăn tối. Chúng đưa bà về giam tại Ty an ninh tỉnh Tuyên Đức, bị giam giữ và tra tấn ở đây suốt 3 tháng trời mới được Tỉnh trưởng Trần Văn Phước cứu thoát.

Tiếp tục chiến đấu, bà có mặt tại Đà Lạt từ những ngày thành phố hỗn loạn vì quân địch tháo chạy trong chiến dịch mùa xuân lịch sử. Tiếp đó, bà cùng đoàn công tác của đồng chí Phạm Hùng từ Đà Lạt tiến về giải phóng Sài Gòn.

Chiều 30/4/1975, trong lúc đang cùng đoàn cán bộ Quân quản làm việc tại Dinh Độc Lập, Ba Diệp bị ngất bởi vết thương trên đầu tái phát, do nhiều đêm thức trắng, căng thẳng và làm việc quá sức. Đồng đội lập tức đưa bà vào bệnh viện cấp cứu.

Khi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trong Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Bà lơ mơ nghe các bác sĩ nói mình đã được phẫu thuật cách đó hơn một tuần. Họ đã lấy được một mảnh đạn nhỏ 3 ly, nằm trong hộp sọ, sau tai trái của mình. Vì nhóm máu O của bà lúc đó quá hiếm, một bác sĩ người Mỹ tốt bụng đã tình nguyện hiến máu cho bà, rồi lại đi vào hôn mê. Mãi 3 tháng sau, mới tỉnh dậy lần thứ 2, bà thấy mình đang trong Bệnh viện Chợ Quán Sài Gòn.

Rồi tới một ngày, bà nghe lỏm các bác sĩ nói với nhau: “Bà này bị trầm cảm rất nặng, chuẩn bị đưa đi nhà thương điên ở Biên Hòa”. Quá hoảng, bà liền tự bỏ bệnh viện ra về trong tình trạng nửa tỉnh, nửa mơ, nhiều khi không biết mình là ai, không nhớ quá khứ của mình thế nào và không một thứ giấy tờ tùy thân (giấy tờ tùy thân, nhà đất, bằng cấp… đều mất trong trận đánh bom rạp Ngọc Lan). Theo bản năng, bà tìm về căn nhà cũ của mình trong một con hẻm nhỏ ở gần chợ Cây Quéo – Gia Định. Ngôi nhà lâu không có người ở.

Không có lương, không tiền trợ cấp, để có thể tồn tại được hằng ngày, bà phải ra chợ trời buôn bán đồ cũ của vợ con công chức chế độ cũ. Gặp gì mua nấy, có lời là bán, miễn là kiếm được mấy đồng đủ mua gạo, mua rau sống qua ngày. Cũng vì buôn bán ở chợ trời Huỳnh Thúc Kháng – Sài Gòn mà trong một đợt bị truy quét, bà đã bị bắt đưa đi lao động cải tạo tại trại Ba Reng (thuộc H. Mộc Hóa, tỉnh Tây Ninh, sát biên giới Campuchia).

Khi quân Pôn Pốt tấn công biên giới, trại Ba Reng bị tan rã, Ba Diệp thoát được về Sài Gòn, rồi lên Đà Lạt. Tất cả đều trở thành con số không, hai bàn tay trắng bà phải kiếm tiền thuê nhà, sống bằng nghề chữa bệnh chui và buôn thuốc Tây ở chợ trời. Trí nhớ khôi phục dần, bà thường kể cho các con nghe về cuộc đời hoạt động của mình.

Những day dứt và niềm hạnh phúc cuối đời

Gấp lại cuốn nhật ký xưa, bà Ánh trở lại với đời thực, bà thở dài: “Hiện tôi sống cùng vợ chồng người con nuôi. Nhưng khổ nỗi là thần kinh nó bị ảnh hưởng sau một tai nạn nghiêm trọng, may mà 2 đứa cháu một trai một gái ngoan ngoãn học giỏi.

Bà Ánh bên cạnh cô cháu gái

Tôi hỏi: “Những người con ruột bà đâu?” Như chạm vào nỗi sâu kín, bà vào trong lấy ra tấm ảnh chụp người đàn ông đứng tuổi mang áo nâu nhà Phật rồi nói: “Đó chính là Đào Tấn Phúc, người con trai duy nhất này bị chính cha nó (Đào Tuấn Kiệt) bí mật bắt cóc từ lúc bập bẹ, rồi cho sang Pháp học vì sợ lớn lên cũng sẽ đi theo con đường của cha mẹ nhiều bất trắc, lắm hiểm nguy. Hiện Tấn Phúc đang ở Pháp. Còn người con gái đầu của tôi đã mất vào năm 1981 sau một tai nạn”. Đoạn đôi mắt người phụ nữ bạc phận lại đỏ hoe.

Có lẽ trường hợp chồng bắt con rồi biền biệt giấu vợ vì tương lai của con chỉ có thể xảy ra với những người làm tình báo như bà Đặng Hoàng Ánh mà thôi. Câu chuyện éo le đó, bà ghi lại tường tận trong cuốn nhật ký của mình. Bà Ánh bảo, khi Đào Tấn Phúc bị bắt cóc, bà mang nỗi đau mất con ròng rã mấy chục năm trời. Năm 1962 Tấn Phúc bị mất tích, mãi đến năm 1982 trong một lần về Sài Gòn mới có người quen tiết lộ rằng, từng thấy Tấn Phúc ở một nhà trẻ ở Long An. Hi vọng về việc tìm lại con lại dấy lên, đến năm 1994 khi Trần Văn Phước từ Pháp về nước thì câu chuyện bí ẩn mấy chục năm chôn giấu trên mới được tiết lộ.

Câu chuyện hi hữu ấy được bà Ánh ghi lại như sau: Năm 1962 BS. Đào Tuấn Kiệt đột ngột từ Pháp về nhưng giấu vợ và đi thẳng lên Đà Lạt thăm nhà. Lúc này Ngọc Diệp đang giặt tã cho con mình ở phía sau nhà, khi quay trở vào thì cửa chính bị phá, đứa bé hơn một tháng tuổi đã mất tích. Sau nhiều ngày tìm kiếm nhưng đều bất thành, Ngọc Diệp sống trong triền miên những tháng ngày đau khổ.

Theo lời kể của chính người trong cuộc là Trần Văn Phước thì sau khi mang con trai về, Đào Tuấn Kiệt nhờ Phước trông giùm ở một nhà trẻ mồ côi với tên họ hoàn toàn khác. Mãi đến lúc 17 tuổi thì Đào Tuấn Kiệt mới đưa con mình sang Pháp học, Đào Tấn Phúc cũng theo nghề y, thế nhưng sau khi tốt nghiệp thì quyết định xuất gia và làm trụ trì một ngôi chùa ở TP. Măc- Xây (Pháp).

“Sau này Đào Tấn Phúc về nước một lần, mẹ con tôi có gặp nhau, nhưng rồi tình cảm cũng nhạt nhòa, vì trên thực tế Tấn Phúc lớn lên không có sự chăm sóc của cha, mẹ”, giọng bà Ánh buồn khi nói về người con trai duy nhất của mình.

Bà Ánh mãn nguyện khi hai đứa cháu rất ngoan và học giỏi

Còn câu chuyện bà cưu mang đứa con của đồng đội cũng thấm đầy nước mắt. Tháng 5/1972, bà bị bắt và giam 100 ngày vì bị chỉ điểm cung cấp lương thực cho quân giải phóng, rồi bị đưa về tra khảo tại Văn phòng quân cảnh, số 11B Trần Hưng Đạo, Đà Lạt. Cùng giam với bà có một nữ chiến sĩ của ta và một bé trai.

Bà kể: “Chị nói tên là Dương, có lẽ là một sinh viên hoạt động trong phong trào yêu nước Trương Đình Thành. Trong khi lấy lời khai, tôi nghe chị nói rất đanh thép: “Tao Nguyễn Thị Dương, cộng sản Cai Lậy”, nhưng có lẽ đó là cái tên giả. Chúng tôi bị tra tấn rất dã man, sống dở chết dở. Chị Dương đã chửi rủa chúng, với ý đồ cho địch tập trung hết vào mình mà lơi tay với tôi, nên chị đã bị chúng chặt tay, rạch miệng tử vong. Trước khi hi sinh, chị lấy trong áo đứa bé một tấm hình cỡ 4×6 của chị, rồi nhờ tôi cưu mang bé Cu, và nói cha cháu tên là Chinh”.

Bé Cu được bà đặt tên theo họ mình Đặng Anh Quân, bà nuôi lớn từng ngày bằng tình thương của người mẹ và trách nhiệm với lời hứa của người đồng đội trung kiên năm xưa. Bà trực tiếp cưới vợ cho người con nuôi, chắt góp từng đồng lương ít ỏi để lo qua những ngày tháng khốn khó.

Nhiều lần bà đã cất công lần manh mối đi tìm để Anh Quân biết về cội nguồn của mình nhưng mọi thông tin đều bặt vô âm tín. Có lẽ đó là duyên nợ để bà có chỗ nương tựa lúc về già. Trước khi chia tay tôi, bà lão xua đi mọi sầu muộn bằng nụ cười tươi: “Con nuôi hay con đẻ cũng là con, miễn sao sống với nhau bằng tình mẫu tử thì khi nhắm mắt tôi cũng mãn nguyện rồi”.

Trăn trở một lời hứa

Có lẽ đời không quá đỗi bất công, chiến tranh loạn lạc, bất hạnh không cho bà được quyền trọn vẹn làm mẹ của những đứa con dứt ruột sinh ra, nhưng bù lại người con mà bà đang cưu mang của một người đồng đội gửi gắm trước lúc hi sinh lại thương bà hơn cả con ruột. Đó là niềm hi vọng của bà lúc về già. Tuy vậy, đến tuổi bóng xế bà vẫn còn bỏ ngỏ lời hứa năm xưa của đồng đội là quyết tìm lại được quê hương bản quán, cũng như dòng dõi cho đứa con nuôi tội nghiệp của người đồng đội.

theo Kỳ Anh//Đời sống pháp luật