Ngân hàng PrivatBank đã bị thừa nhận là mất khả năng thanh toán. Đây là ngân hàng lớn nhất của Ukraina mà theo quyết định của cơ quan Ủy ban an ninh và quốc phòng Ukraina SNBOU đã được quốc hữu hóa, đồng nghĩa ngân hàng chuyển vào sở hữu của nhà nước 100%.

Lưu ý rằng, quá trình quốc hữu hóa các ngân hàng được xem là một quá trình đặc biệt và khẩn cấp. Các nước phương tây thường sử dụng biện pháp quốc hữu hóa trong thời gian khủng hoảng kinh tế-tài chính. Sự thua lỗ của các ngân hàng này đẩy nhà nước tới biện pháp quốc hữu hóa để bảo đảm an ninh kinh tế và giữ ổn định cho hệ thống tài chính.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy việc quốc hữu hóa các ngân hàng, thường là những ngân hàng quan trọng đối với nền kinh tế bởi vì việc xóa sổ những ngân hàng mất thanh khoản như thế chỉ làm cho tình hình kinh tế và tài chính trở nên tồi tệ hơn. Thị trường tài chính nói chung phản ứng tích cực đối với quyết định của chính phủ về quốc hữu hóa ngân hàng, bởi vì họ tiếp nhận sự kiện như là tín hiệu tích cực làm cho hệ thống ngân hàng khỏe mạnh lên.

Việc quốc hữu hóa ngân hàng mang tính hệ thống (có nhiều chi nhánh và nhiều khách hàng, -nd) dù sao cũng kéo theo áp lực nhất định lên chỉ số lạm phát và tỉ giá ngoại hối, tuy nhiên các hiệu ứng này có thể tối thiểu hóa khi sử dụng những biện pháp cứng rắn trong chính sách tiền tệ.

  • Ở Mỹ, trong cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2008 người ta sử dụng hai phương án.

Phương án thứ nhất là thực hiện tái cấp vốn (recapitalization) – ném vào ngân hàng đó số tiền bổ sung từ ngân sách nhà nước. Năm 2008 Mỹ đã ném $175 tỉ cho 7 ngân hàng hàng đầu đất nước: – Bank of America Corp, Wells Fargo, Citigroup, JP Morgan Chase & Co, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Bank of New York Mellon Corp.

Phương án thứ hai tiên liệu quốc hữu hóa các ngân hàng có vấn đề. Nhà nước mua tài sản các ngân hàng đã phá sản và sau đó lại bán đi. Chẳng hạn, sau khi bán gói cổ phiếu của ngân hàng “Citigroup” thì chỉ sau đó 1 năm đã bán đi với số tiền lãi 10 tỉ đô la.

Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở các nước Châu Âu vào thời kỳ khủng hoảng 2008-2009.

  • Ở Anh đã quốc hữu hóa các ngân hàng: – Northern Rock, Bradford & Bingley и Bank of Scotland.

Đồng thời điều kiện bắt buộc của quốc hữu hóa ở Anh là phải tư nhân hóa chúng trong thời kỳ trung hạn sau đó. Ở Anh cũng thành lập Quỹ đặc biệt phục hồi các ngân hàng với số tiền 50 tỉ Bảng để mua các cổ phiếu của các ngân hàng có vấn đề. Ngoài ra, Ngân hàng trung ương thường xuyên tiến hành trắc nghiệm “Stress-Test” để đánh giá nhu cầu tiền vốn của ngân hàng.

  • Ở Đức năm 2008-2009 người ta sử dụng “quốc hữu hóa từng phần”. Trong đó một phần cổ phiếu các ngân hàng được chuyển sang sở hữu nhà nước trên cơ sở trả tiền. Chẳng hạn, ở Đức nhà nước mua 25% cổ phiếu của ngân hàng Commerzbank với giá 10 tỉ euro.
  • Ở Thổ Nhĩ Kỳ với sự hợp tác của IMF và WB vào đầu những năm 2000 đã soạn thảo chương trình đặc biệt chống khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng. Ngoài việc nhận tín dụng để ổn định từ IMF 15,7 tỉ đô la vào mục đích tái cơ cấu lĩnh vực tài chính Thổ Nhĩ Kỹ đã sử dụng thực tiễn sáp nhập các ngân hàng lại thành ngân hàng lớn và giảm bớt số các ngân hàng có vấn đề.

Thực tiễn sáp nhập các ngân hàng nhà nước cũng được Trung Quốc tích cực sử dụng. Kết quả cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả. Đồng thời, cái chính là tránh được hoảng loạn trên thị trường tài chính và bảo đảm thanh khoản cho các khách hàng.

Nguồn: fakty

PS: Ở Việt Nam vào năm 2013-2014 cũng đã xảy ra việc sáp nhập một số ngân hàng thương mại yếu kém, thậm chí nhà nước cũng đã mua lại ngân hàng với giá zero.

»Cùng chủ đề